Giáo trình động vật học cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện về động vật học, bao gồm đối tượng, nhiệm vụ, lịch sử phát triển, tầm quan trọng, cấu tạo cơ thể, các kiểu đối xứng, sinh sản, phát triển cá thể và hệ thống phân loại động vật.
Các điểm chính được tóm tắt:
- Động vật học: Là khoa học nghiên cứu về động vật, từ hình thái, cấu tạo, hoạt động sống, sự phân bố đến sự tiến hóa và ứng dụng vào đời sống con người. Ngành này có vai trò quan trọng trong việc xây dựng kinh tế, quốc phòng, điều tra thiên nhiên và phát triển triết học tự nhiên.
- Lịch sử động vật học: Trải dài từ thời cổ đại với Aristotle, qua thời kỳ Phục Hưng, đến thế kỷ XVII với Linne và thế kỷ XIX với Lamac cùng học thuyết tiến hóa của Darwin. Thế kỷ XX chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của nhiều lĩnh vực con trong sinh học.
- Cấu tạo cơ thể động vật: Đơn vị cơ bản là tế bào (gồm màng sinh chất, tế bào chất và nhân). Cơ thể động vật có thể là đơn bào (chỉ một tế bào) hoặc đa bào (nhiều tế bào phân hóa chức năng tạo thành mô, cơ quan và hệ cơ quan).
- Các kiểu đối xứng: Gồm đối xứng hình cầu (động vật nguyên sinh), đối xứng tỏa tròn (Ruột túi, Sứa lược, Da gai) và đối xứng hai bên (hầu hết các động vật). Một số động vật thân mềm không có tính đối xứng.
- Sinh sản: Chia thành sinh sản vô tính (phân chia cơ thể, liệt sinh, sinh giao tử, mọc chồi, tái sinh) và sinh sản hữu tính (liên hợp, tiếp hợp, thụ tinh).
- Phát triển cá thể: Ở động vật đơn bào thường đồng nghĩa với sự sinh trưởng. Ở động vật đa bào, trải qua các giai đoạn hình thành tế bào sinh dục và hợp tử, phân cắt trứng, hình thành phôi vị, hình thành các lá phôi và hình thành các cơ quan (phát triển trực tiếp hoặc qua biến thái).
- Hệ thống phân loại động vật: Dựa trên các dấu hiệu giống và khác nhau để xác lập mối quan hệ họ hàng, với các bậc phân loại từ thấp đến cao (loài, giống, họ, bộ, lớp, ngành, giới). Giới động vật được chia thành 17 ngành, trong đó có các ngành chủ yếu như Động vật nguyên sinh, Thân lỗ, Ruột khoang, Giun dẹp, Giun tròn, Chân khớp, Thân mềm, Da gai, Dây sống.
- Động vật nguyên sinh (Protozoa): Là động vật đơn bào, có nhiều hình dạng, vận động bằng chân giả, roi hoặc tơ bơi. Chúng có ba hình thức dinh dưỡng (tự dưỡng, dị dưỡng, hoại dưỡng), hô hấp qua bề mặt cơ thể hoặc lên men, bài tiết qua không bào co bóp. Sinh sản vô tính và hữu tính luân phiên nhau. Có khả năng nang hóa khi gặp điều kiện bất lợi. Ngành này gồm 5 lớp: Trùng roi, Trùng chân giả, Bào tử trùng, Bào tử trùng gai, Trùng tơ.
- Phân giới Động vật đa bào (Metazoa): Cơ thể gồm nhiều tế bào phân hóa về cấu tạo và chức năng. Bao gồm Động vật trung gian (ngành Bọt bể) và Động vật hậu sinh chính thức (có sự phân hóa tế bào thành mô, có hệ thần kinh).
- Ngành Thân lỗ (Porifera) hay Bọt bể (Spongia): Là động vật đa bào nguyên thủy nhất, sống cố định, cơ thể đơn giản, chưa phân hóa thành mô và cơ quan. Có hệ thống ống dẫn nước, cấu tạo thành cơ thể gồm lớp ngoại bì và nội bì, giữa là tầng trung chất. Sinh sản vô tính bằng mọc chồi và hữu tính. Có khả năng tái sinh cao.
- Ngành Ruột túi (Coelenterata): Hoàn thiện hơn Bọt bể, cơ thể đối xứng hình tia, phát triển từ hai lá phôi. Đã có sự phân hóa tế bào thành cơ và mạng lưới thần kinh cảm giác. Vòng đời có hai pha luân phiên: thủy tức (sinh sản vô tính) và sứa (sinh sản hữu tính).
Nghành Thú Y Sách giáo trình Top 10
Giáo trình động vật học- Tác giả: Đợi Cập Nhật
- Ngôn ngữ: Tiếng Việt
